Hiển thị các bài đăng có nhãn Sự Tích Hoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sự Tích Hoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Sự Tích Hoa Phượng


Hoa Phượng

Hoa Phượng


Ngày xưa, xưa lắm, ở một vùng đất đồi kia, có một ông thầy dạy võ nổi tiếng về tài đánh kiếm. Vợ ông chết sớm, ông thương vợ, không lấy ai nữa nên ông không có con. Ông đi xin năm người con trai mồ côi ở trong vùng về làm con nuôi. Ngoài những giờ luyện võ, ông lại cho năm người đi học chữ, vì ông muốn năm người cùng giỏi võ, giỏi văn.
Tuổi năm người con xấp xỉ ngang nhau. Năm ấy, họ chỉ mới mười ba, mười bốn... Người nào học cũng khá và tài múa kiếm thì nổi tiếng khắp vùng. Ai cũng dễ nhận được họ vì ông sắm cho năm người năm bộ quần áo màu đỏ, để mặc ra đường. Thương bố nuôi nên năm người con rất biết nhường nhịn nhau và yêu quý mọi người trong làng... Năm ấy trong nước có loạn. Giặc ngoài kéo vào. Nhà cháy, người chết. Tiếng kêu khóc và lòng oán giận cứ lan dần, lớn dần. Đâu cũng đồn tên tướng giặc có sức khỏe kỳ lạ. Chỉ cần đạp nhẹ một cái cũng làm bật gốc được một thân cây to. Hắn lại sử dụng một cây thương dài và nặng, đâm chết từng xâu người một cách dễ dàng. Mọi người còn đồn thêm rằng hắn sở dĩ khỏe như vậy là vì hắn thích ăn thịt sống và đặc biệt hơn nữa là chỉ thích ăn toàn xôi gấc chứ không thích ăn cơm, mỗi lần hắn ăn hàng chục cân thịt cùng với một nong xôi gấc lớn. Người thầy dạy võ ở vùng đất đồi nọ định xin vua đi đánh giặc thì ngã ra ốm. Tay chân ông bị co quắp cả lại. Cụ lang giỏi nhất vùng đến xem bệnh và chỉ biết là ông uống phải thuốc độc. Ai cũng nghi tên tướng giặc đã ngầm cho những kẻ chân tay của hắn đi tìm giết trước những người tài giỏi trong nước. Người thầy dạy võ vừa uống thuốc, vừa ngày đêm ra sức tập luyện để tay chân mình lại cử động được như xưa. Một buổi sáng, tên tướng giặc bất thình lình phóng ngựa, dẫn quân lính của hắn kéo ập vào làng.

Hoa Phượng

Hắn thấy ông thầy dạy võ đang lấy chân đạp vào một gốc cây sung to. Cây sung lúc đầu bị rung khe khẽ, rồi mỗi lúc rung một mạnh hơn. Sau đó, ông nhấc một cái cối đá to đưa lên, đưa xuống, vẻ còn mệt nhọc. Tên tướng giặc cười phá lên rồi xuống ngựa giơ chân đạp nhẹ vào thân cây sung. Thế là cây sung bị gãy ngang và ào ào đổ xuống. Hắn lại nhẹ nhàng đưa một tay tóm lấy cái cối đá ném vứt đi, như ta ném một hòn gạch con và cho rơi ùm xuống cái ao lớn gần đấy. Hắn gọi mấy tên quân đến trói chặt ông thầy dạy võ lại rồi bảo:
-Tao nghe mày muốn đi đánh tao phải không? Bây giờ thì mạng mày nằm trong tay tao rồi! Muốn sống thì hãy giết một con bò tơ, lọc năm mươi cân thịt ngon nhất, nấu một nong xôi gấc rồi mang đến chỗ ta đóng quân ở trên ngọn đồi giữa làng. Phải đội trên đầu mà đi chứ không được gánh. Đi luôn một mạch, không được dừng lại hay đặt xuống nghỉ. Đội thịt đến trước! Đội xôi đến sau!
Nói xong hắn ra lệnh cởi trói cho ông. người thầy dạy võ giận tím ruột, tím gan nhưng chẳng nói gì. Lúc ấy năm người con đang đi vắng, họ phải đi học chữ xa làng và lại sắp đến mùa thi. Không ai dám rời cái bút cái nghiên. Nhưng vừa nghe tin giặc kéo đến làng, họ lập tức đeo gươm vào người mà xin thầy cho về. Về đến nhà, nghe bố kể chuyện lại, năm người con nổi giận muốn chạy đi tìm tên tướng giặc hung ác để giết ngay. Người bố liền khuyên:
-Không được! Lúc nào quân lính của hắn cũng vây quanh, khó mà đến gần. Ngọn thương của hắn lại có thể đâm chết người từ rất xa. Các con cứ bình tĩnh, ta đã có cách khử nó! Người cha đi vay tiền mua một con bò tơ, mổ thịt rồi lọc lấy năm mươi cân thịt ngon nhất để vào một cái nia to. Ông lại đi vay ba gánh nếp trắng, đi xin ba chục quả gấc đỏ, nấu một chục nồi xôi thật dẻo. Ông đội nia thịt bò tơ đến trước. Chân ông còn đau, năm mươi cân thịt đội trên đầu không phải là nhẹ. Ông đội nia đi, mồ hôi vã ra đầy trán. Tên tướng giặc thấy ông đội thịt đến, mồm cứ nuốt nước bọt ừng ực. Hết nuốt nước bọt ừng ực, hắn lại khoái trá cười to. Còn người đội thịt thì bấm ruột chịu đựng và nghĩ thầm: "Cho mày cứ cười rồi mày sẽ biết..." Tên tướng giặc cười nhận thịt xong quát to lên và giục:
-Còn nong xôi nữa, mày về đội đến đây ngay! Người thày dạy võ lại về đội nong xôi đến. Nong xôi to và nặng hơn nia thịt nhiều. Nhưng xôi nấu ngon và nhìn đẹp quá. Ông đội nong xôi đi đến đâu, ở đó cứ thơm lừng. Mới đi được nửa đường, mồ hôi ông đã vã ra đầy mặt, đầy người. Đôi chân ông mỗi lúc một yếu, cứ run lẩy bẩy. Cái cổ cứ như muốn gãy gập lại. ông vẫn bặm môi, cắn răng và bắt đầu leo lên đồi. Tuy mệt lử nhưng đôi mắt ông sáng quắc và lòng ông rất vui. Ông tự nhủ: "Gắng lên! Chỉ cần một lúc nữa, một lúc nữa..." Tên tướng giặc ngồi trên cao theo dõi, vừa hả dạ, vừa lo lắng. Hắn nghĩ: "Thằng này không bị thuốc độc của ta thì khó mà trị được nó. Mà ngay bây giờ, hắn vẫn là một tay đáng sợ". Cái nong xôi gấc to lớn, thơm lừng vẫn lù lù tiến lên đồi. Mặt người đội xôi tái hẳn lại. Chỉ có đôi mắt. Đôi mắt vẫn sáng quắc. Nong xôi có lúc lảo đảo, ngả nghiêng, nhưng liền đó lại gượng lại, rồi nhích dần lên. Tên tướng giặc vội giật lấy thanh gươm của tên lính hầu rồi đứng phắt dậy, phóng gươm đi. Đường gươm sáng rực lên như một tia chớp, cắm vào bụng người thầy dạy võ làm ông chực gục xuống. Nhưng ông đã gượng đứng thẳng lên và đưa tay rút lưỡi gươm ra, phóng lại vào ngực kẻ thù. Tên giặc tránh được.
Bỗng từ trong nong xôi, năm người con nằm quây tròn được xôi phủ kín, đã vung kiếm nhảy ra và như năm làn chớp đâm phập cả vào ngực tên giặc ác. Tên tướng giặc không chống đỡ kịp, rú lên một tiếng rung cả ngọn đồi rồi ngã vật xuống. Thấy tướng đã chết, bọn lính giặc hoảng quá, kéo nhau chạy bán sống bán chết. Dẹp giặc xong, năm người con trai trở về ôm lấy xác người bố nuôi khóc vật vã mấy ngày liền. Cả làng cùng năm người con lo chuyện chôn cất rất chu đáo. Dân làng mỗi người một nắm đất đắp cho ngôi mộ ông thày cao lên. Thương bố nuôi, năm người con lại trồng quanh khu mộ năm gốc cây con, một giống cây có lá đẹp như thêu và có nhiều bóng mát. Hàng năm, đến ngày giỗ bố, họ lại đem áo đỏ ra mặc. Họ nhớ tiếc người thầy dạy võ đã có công giết giặc cứu dân. Đến lúc năm người lần lượt chết đi thì năm cái cây họ trồng quanh khu mộ người bố cũng lần lượt ra hoa màu đỏ thắm, đúng vào ngày giỗ người thầy dạy võ. Hoa đỏ như muốn nói với mọi người rằng: tuy chết đi, nhưng năm người con vẫn yêu thương người bố nuôi và hàng năm đến mùa giỗ bố, họ lại mặc áo đỏ để tưởng nhớ người đã khuất... Hoa có năm cánh đỏ rực và nhìn cả cây hoa nở rộ, người ta thấy giống như một mâm xôi gấc. Cái mâm xôi ngày nào người bố đã giấu năm người con trong đó và đội đi giết giặc. Đó là cây hoa Phượng ngày nay. Mỗi năm, khi mùa Hè đến, mùa thi đến, hoa Phượng lại nở đỏ đầy cây, đầy trời. Khi mùa Hè qua, trên khắp các cành cây, người ta lại thấy hiện ra những quả Phượng dài như những thanh gươm của năm người con trai ngày trước...


Sự Tích Hoa Quỳnh Và Hoa Mẫu Đơn



Sự tích hoa Quỳnh và hoa Mẫu đơn . 

Hoa Quỳnh

Hoa Mẫu Đơn

Theo truyền thuyết, ngày xưa vào thời nhà Tùy (Dương Quảng 605 - 617) ở Dương Châu, Trung Quốc, có Tùy Dạng Đế là ông vua hôn quân vô đạo, chơi bời trác táng, xa hoa, phung phí, một đêm nằm mơ thấy một cây trổ hoa đẹp... Cùng thời điểm ấy, tại Lạc Dương thành có ngôi chùa cổ kính là Dương Ly, vào giữa canh ba, ngoài cửa chùa thình lình ánh sáng rực lên như lửa cháy, hương thơm sực nức lạ lùng, như sao trên trời sa xuống, làm dân chúng bàng hoàng đổ xô đến xem đông như kiến cỏ. Gần giếng nước trong sân chùa mọc lên cây bông lạ, trên ngọn trổ một đóa ngũ sắc với 18 cánh lớn ở phía trên, 24 cánh nhỏ ở phía dưới, mùi thơm ngào ngạt bay tỏa khắp nơi nơi, lan xa ngàn dặm. Dân chúng đặt tên là hoa Quỳnh. 

Điềm báo mộng của vua Tùy Dạng Đế được ứng với tin đồn đãi, nên Vua yết bảng bố cáo: "Ai vẽ được loại hoa Quỳnh đem dâng lên, Vua trọng thưởng". Không đầy tháng saụ.. có một họa sĩ dâng lên Vua bức họa như ý. Nhìn đóa hoa trong tranh cực kỳ xinh đẹp, tất nhiên hoa thật còn đẹp đến dường nào! Nghĩ vậy, Vua liền quyết định tuần du Dương Châu để thưởng ngoạn hoa Quỳnh. 



Trong chuyến tuần du cần có đủ mặt bá quan văn võ triều thần hộ giá, nên để tiện việc di chuyển, Tùy Dạng Đế ban lệnh khai kênh Vạn Hà từ Trường An đến Dương Châụ Hàng chục triệu ngày công lao động phải bỏ ra, hàng vạn con người phải vất vả bỏ mình. Kênh rộng cả chục trượng, sâu đủ cho thuyền rồng di chuyển. Hai bên bờ kênh được trồng toàn lệ liễu đều đặn cách nhau 10 mét một cây (cụm từ "dặm liễu" xuất phát từ đó, điển hình câu thơ: Dặm liễu sương sa khách bước dồn của Bà Huyện Thanh Quan). Kênh đào xong, một buổi lễ khánh thành được cử hành trọng thể, đoàn thuyền giương buồm gấm khởi hành... cả nghìn cung nữ xiêm y rực rỡ, mặt hoa da phấn... thuyền rồng được buộc bằng các dải lụa dùng để kéo đị Vua Tùy Dạng Đế ngồi trên mui rồng uống rượu nghe đàn hát ca sang ngắm cảnh Giang Nam và đàn cung nữ tuyệt thế giai nhân. Vua thấy nàng nào thích ý cho vời vào hầu ngaỵ Chuyến tuần du của bạo chúa Tùy Dạng Đế vô cùng xa xỉ, hao tốn công quỹ triều đình. Đây là một trong những nguyên nhân đẩy đất nước đến đói nghèo, loạn lạc khắp nơi, đưa nhà Tùy đến sụp đổ, dựng nên cơ nghiệp nhà Đường. Trong những quan quân hộ giá, có cha con Lý Uyên. Qua thời gian hơn 90 ngày, đoàn du hành đến đất Dương Châụ Thuyền vừa cặp bến, con của Lý Uyên phương danh là Lý Thế Dân cùng bằng hữu rủ nhau lén lút đi xem hoa ngay trong đêm, sợ sáng hôm sau triều thần cùng đi đông vầy lớp trẻ khó chen chân lọt vào vườn hoạ Lý Thế Dân là người có chân mạng đế vương (về sau là Vua Đường Thái Tông 627 - 649) nên giống hoa nhún mình lên xuống 3 lần để nghinh đón. Cánh hoa cong trắng nõn, nhụy hoa điểm xuyết màu vàng, hương hoa ngọt ngàọ Dưới ánh trăng vằng vặc hoa đẹp tuyệt vời! Xem xong, một cơn mưa to rụng hết. 

Sáng hôm sau, Tùy Dạng Đế xa giá đến xem hoa, chỉ còn thấy trơ vơ cánh hoa úa rũ, tan tác!... Vua tức giận, tiếc công nghìn dặm không được xem hoa, ra lệnh nhổ bỏ, vứt đi! Từ đó hoa Quỳnh chỉ nở về đêm cho những ai có lòng ân ái: "Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên". 

Qua cuộc tuần du, nhiều cuộc bạo loạn nổi lên khắp nơị Tùy Dạng Đế bị cận thần sát hại dẫn đến nhà Tùy mất ngôi, Lý Thế Dân đứng lên lập nên nhà Đường. 

... Đến đời Đường Cao Tông, say đắm Võ Hậu, lúc Vua băng hà con còn nhỏ, Võ Hậu chuyên quyền nhiếp chánh hãm hại công thần, tự xưng vương, đổi nhà Đường thành nhà Đại Châu, xưng hiệu Võ Tắc Thiên hoàng đế. Một hôm, Võ Tắc Thiên ngự du vườn thượng uyển nhìn cỏ cây xác xơ trơ trọi liễu đào ủ rũ điêu tàn, liền truyền lệnh bằng bài tứ tuyệt khắc ngay cửa vườn: 

Lai triều du thượng uyển - Hỏa tốc báo xuân trị 
Bách hoa liên dạ phát - Mạc đãi hiểu phong xuỵ 


Dịch: (Bãi triều du thượng uyển - Gấp gấp báo xuân haỵ 
Hoa nở hết đêm nay - Đừng chờ môn gió sớm). 


Linh ứng thay! Trăm hoa phụng mệnh, chỉ trong một đêm bừng nở khắp vườn, mùi thơm sực nức nhân gian! Rạng sáng hôm sau, Võ Tắc Thiên dạo vườn trông muôn hồng ngàn tía ngoan ngoãn đua chen nở rộ, lấy làm tự mãn cho rằng quyền uy tột đỉnh. Bất giác, bà Chúa bạo dâm Võ Tắc Thiên nhìn đóa Mẫu Đơn bất tuân thượng mệnh, thân cây khẳng khiu cứng cỏi, không hoa lá. Giận thay cho loài hoa ngoan cố, Võ Tắc Thiên ra lệnh đày Mẫu Đơn xuống tận Giang Nam. 

Do đó, vùng Giang Bắc thiếu vắng loài hoa vương giả, biểu trưng cho quốc sắc thiên hương nhằm ám chỉ tuyệt sắc giai nhân. Người đương thời thấy vậy dệt bài Phú Ngọc Lâu Xuân Tứ nhằm thương hại và tán thán vẻ đẹp, sự khẳng khái của hoa Mẫu Đơn, thà chịu cảnh phong trần lưu lạc tự giải phóng cuộc đời chớ không làm vương giả chốn kinh đô, chịu giam mình trong vườn hoa tù hãm của bạo chúa, đem sắc đẹp hương thơm ban rải cho mọi người để được dự phần thanh cao. 

Đó là truyền thuyết hoa Quỳnh và hoa Mẫu Đơn được đời sau dệt thành giai thoại đầy hấp dẫn qua thuyết Đường của Trung Quốc biểu thị cho người đời suy gẫm Hoa và Người: Ai là người xứng đáng thưởng hoa và hoa phải thế nào cho con người thưởng ngoạn. 
Hoa Quỳnh Trắng

Hoa Mẫu Đơn

Sự Tích Hoa Rau Muống Biển


Hoa Rau Muống


Hoa Rau Muống

Có một đôi trai gái yêu nhau tha thiết, nhưng vì không “môn đăng hộ đối”. Gia đình cô gái thì rất giàu, còn chàng trai thì ngược lại, rất nghèo. Khi cha cô gái biết được 2 người quen nhau liền đưa ra 1 điều kiện: “Nếu chàng trai kiếm đủ tiền mua lễ vật như yêu cầu thì sẽ gả con gái cho chàng trai”.
Và từ hôm đó ngày nào chàng trai cũng ra biển đánh cá để mong tìm đủ tiền mua lễ vật cho nhạc phụ tương lai. Đến 1 ngày, số tiền đã gần đủ, hôm nay có thể nói là lần ra khơi cuối là đủ. Nhưng trớ trêu thay, chàng trai đã ra đi không trở về. Thuyền anh đã gặp 1 cơn bão lớn.
Cô gái đã khóc rất nhiều và đứng trên bờ biển để đợi chàng trai trở về nhưng chờ mãi, chờ mãi… cô gái kiệt sức và chết. Các vị thần thương cho thân phận cô gái đã biến cô thành “Hoa muống biển” và loại rau này luôn mọc hướng ra biển như ý là cô gái muốn ra biển để tìm chàng trai.

Sau khi chàng trai chết, cũng đã xin các vị thần biến mình thành những ngọn sóng. Để khi mỗi lần rau muống biển mọc lan xuống biển thì những ngọn sóng lại đánh bật lên bờ. Bởi vì chàng trai không muốn cô gái ra biển tìm mình, chàng lo cho sự an toàn của cô gái.

Sự Tích Hoa Sen


Truyền thuyết về Hoa Sen 


Hoa Sen

Sự tích:  Ngày xưa ở một làng nọ có hai cô bé mồ côi cha mẹ. Hai em được một người hát xẩm đưa về nuôi. Ông dạy cho hai em các điệu múa bài hát. Một lần cô em bị ốm, cô chị đã đốt chiếc nhẫn quý của mình làm thành thuốc thần cứu sống em.
Càng lớn hai chị em càng trở nên xinh đẹp, hát hay múa giỏi nổi tiếng khắp vùng.
 
Trong vùng có một tên công tử khét tiếng độc ác, làm mưa làm gió cả vùng. Nghe tiếng hai cô, hắn âm mưu bắt về làm vợ.
Một hôm người cha nuôi phải đi xa, ông hứa sẽ mua tặng mỗi con một món quà. Cô chị xin cha một đôi hài màu trắng thêu chỉ vàng, còn cô em xin cha một đôi hài hồng thêu chỉ vàng.
Nhân lúc người cha vắng nhà, tên công tử đã cho người đến bắt cô chị về. Để giữ trọn trinh tiết của mình cô gieo mình xuống hồ. Quá thương tâm, cô em cũng trầm mình theo chị. Khi người cha nuôi trở về không thấy con đâu, ông đi tìm hỏi và được biết chuyện.
Đi đến hồ tìm con đột nhiên, ông ngửi thấy mùi hương thơm ngan ngát tỏa ra từ hồ và ông nhìn thấy trên mặt hồ những bông hoa màu trắng và hồng. Những cánh hoa xinh xinh tựa như dáng hài; ở giữa có nhụy vàng như những sợi chỉ thêu; những chiếc lá xòe to giống như những chiếc nón quai thao các cô thường đội; hương hoa tỏa thơm dịu dàng tinh khiết như tâm hồn hai chị em.
Quá đau buồn, người cha bật khóc. Bất chợt, hai cô con gái từ dưới hồ hiện ra và bước lên cạnh ông. Cô chị kể lại chuyện: "Khi hai chị em con gieo mình xuống hồ đã được bà chúa hồ thương tình dang tay đón lấy và cứu sống. Bà rất quý chúng con, muốn chúng con ở lại với bà nhưng chúng con xin được về nhà chăm sóc cha.
Bà đã đồng ý cho chúng con trở về với cha và tạo ra những đóa hoa kia tượng trưng cho hai chị em để bà luôn cảm thấy có hai con bên cạnh bà - Tên hoa là Hoa Sen".
 
Ngày nay, Trên Thế giới hoa sen tượng trưng cho Đạo Phật. Trong sách "Tánh mạng khuê" có bài thơ: 

Hồng hồng bạch bạch thủy trung liên, .
Xuất ố nê trung sắc chuyền liên ;
Hành trực ngẫu không bổng hựu thục,
Tu hành diệu lý kháp như nhiên

Tạm dịch

Sen nở trong đầm đỏ trắng phơi,
Bùn nhơ không nhiễm sắc thêm tươi.
Thân ngay, ngó rỗng, gương đầy hột.
Cái lý tu hành cũng thế thôi.

Hình tượng hoa sen trong văn hóa Việt Nam

Ca dao Việt Nam có câu:

"Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".



Có thể nói, từ bao đời nay hoa sen đã trở thành một hình tượng đặc biệt trong văn hóa của người Việt Nam. Trên khắp những nẻo đường ở thôn quê Việt Nam bạn có thể dễ dàng nhìn thấy những đầm hoa sen rộng, xanh và hồng thắm sắc hoa. Hoa sen đã đi vào lòng người Việt, vì thế, khi ngắm hoa bạn sẽ như nhận ra hình ảnh con người Việt Nam - giản dị, hiếu hòa và sáng trong.

Sen gồm có lá, nụ, hoa, hạt và thân rễ. Lá sen có hình dạng tròn nổi trên mặt nước, nụ hoa búp và chụm lại ở đầu, vươn cao, e ấp như một thiếu nữ đang ở độ tuổi xuân thì. Hoa sen thường có các màu phổ biến như trắng, hồng, tím thẫm, vàng,... Quả ở trung tâm hoa chứa các hạt sen còn được gọi là bát sen. Thân rễ (ngó sen) thì mọc dưới các lớp bùn trong ao, hồ hay sông. Mặc dù sinh trưởng trong bùn lầy nhưng hoa sen lại có khả năng làm lắng đục cho dòng nước. Đặc biệt, từ khi nở đến lúc tàn hoa không hề bị ong bướm vây quanh, vẫn luôn vươn lên dưới ánh mặt trời để tỏa hương thơm nồng nàn.

Trong Phật giáo phương Đông nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng thì hoa sen đã trở thành biểu tượng của vẻ đẹp thần bí, huyền ảo và sâu kín. Hoa nở tượng trưng cho quá khứ, đài sen tượng trưng cho hiện tại và hạt sen tượng trưng cho tương lai, sự nối tiếp liên tục.


Đặc biệt, trong nghệ thuật kiến trúc Việt Nam, nhất là trong Phật giáo thì hình ảnh hoa sen được lồng vào cấu trúc nhà mang ý nghĩa về sự giải thoát, giác ngộ Phật pháp. Những công trình tiêu biểu như chùa Một Cột ở Hà Nội, tháp Cửu phẩm liên hoa, chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh... Đều được trang trí hình tượng hoa sen.

Không chỉ vậy, hoa sen còn có một vai trò không nhỏ trong văn hóa ẩm thực Việt Nam. Người Việt dùng tâm sen để ướp thuốc, hương sen để ướp chè (trà), ngó sen để làm món ăn, hay lá sen để gói bánh, gói cốm... Giúp mang lại một mùi thơm thật đặc biệt.

Sự Tích Hoa Sơn Thù Du (Gỗ Chó)


HUYỀN THOẠI SƠN THÙ DU

Hoa Sơn Thù Du

Hơn hai ngàn năm trước, ở Trung Đông có một loại cây đặc biệt rất cao to, thân thẳng, gỗ rắn chắc, bền bỉ hơn những loại cây khác. Vào thời ấy người ta đã dùng loại cây này để làm thập giá đóng đinh những tử tội. Họ cũng có một nhóm thợ rừng chuyên trách việc vào rừng để đốn loại cây này.


Một hôm trưởng nhóm th[/font][font="&quot"]ợ rừng[/font][font="&quot"] được lệnh phải cung cấp gấp một cây thập giá thật cao, thật nặng, thật chắc chắn để đóng đinh Vua dân Do Thái. Và lệnh này mau chóng được thực hiện…


Ba ngày sau khi Chúa Giêsu chết trên cây thập giá, thì cả rừng cây đặc biệt nọ đều khô héo dần rồi tàn lụi…Nhiều năm sau, nơi cách rừng cũ mọc lên một loại cây mới, thân cành không cao, không thẳng, không khỏe nữa. Chúng nở hoa rất lạ, có loại trắng muốt, có loại cánh hoa đỏ hồng nhưng đặc biệt là bốn cánh hoa của chúng nở xòe ra tạo thành hình chữ thập, và nhụy hoa trông như một vương miện kết bằng gai. Tiếng Anh gọi loại cây này là Dogwood (gỗ chó), và dường như các nhà khoa học chưa tìm ra lý do tại sao người ta lại đặt cho nó cái tên xấu xí như vậy. Còn người Trung Quốc gọi nó là Sơn Thù Du



Về lai lịch của Sơn Thù Du, dân gian truyền tụng rằng lúc Chúa Giêsu đang hấp hối trên thập giá thì Ngài nghe tiếng cây gỗ khóc nỉ non. Thì ra cây gỗ tủi hổ và đau đớn vì đã dính líu vào tội ác hành hình Chúa. Chúa bèn an ủi nó: “Ta thấu hiểu lòng con. Ta ban ơn cho con từ nay sẽ không cò đủ to khỏe để người khác khỏi dùng con làm thập giá nữa. Con sẽ nở hoa, hai cánh ngắn và hai cánh dài. Nhụy của con sẽ giống như vương miện kết bằng gai. Về những cánh hoa Sơn Thù Du màu đỏ thì người ta tin rằng nó nhắc nhở mọi người nhớ tới máu của Đấng Cứu Thế đã đổ ra trên cây thập giá.

Sự Tích Hoa Súng Trắng


Hoa Súng Trắng

Hoa Súng Trắng



Cả làng đang bước vào mùa cưới. Và cũng chẳng nên ngạc nhiên khi lucun, chàng trai sởi lởi và đáng yêu nhất vùng lại kết hôn với Lilia, người con gái hay lam hay làm, dễ thương nhất ở làng ấy. Thật quả là trai tài gái sắc.
Nhưng thời ấy có một con quỷ sông lang thang đây đó, chuyên nghề phá vỡ hạnh phúc của những đôi tân hôn. Một buổi chiều lucun ngồi trên bờ hồ chờ đợi Lilia đáp thuyền từ bên kia sông vượt sang. lucun đến trước, ngồi trên một gốc cây mơ màng nghĩ về niềm hạnh phúc lớn lao của mình. Vừa lúc ấy có một người lạ mặt tiến tới gần, lặng lẽ ngồi xuống một bãi cỏ ngay gần chàng và bắt chuyện.
Chờ đợi mãi mà chẳng thấy Lilia, lucun nghĩ rằng có lẽ người yêu đã quên mất cuộc hẹn hò, đôi tay chàng thốt nhiên run rẩy. Người lạ mặt tỏ ra rất tinh ý liền rút trong tay áo ra một cái chai, đưa cho lucun và nói rằng, đây là một phương thuốc chữa bệnh sầu não rất hiệu nghiệm.
- Chàng hãy uống thử một ly, chàng sẽ thấy tâm hồn thanh thản ngay - Người lạ mặt vừa nói vừa rót ra một ly rượu -  một thứ thuốc độc và mời lucun thưởng thức.
Thế là nỗi sầu muộn dường như tan biến. Chàng lại cười nói minh mẫn như thường lện. Chàng nghĩ: nàng đến chậm có thể vì còn bận nhiều việc nhà.
Lát sau, người lạ mặt lại rót ra một ly rượu nữa, lần này là một ly rượu đầy tràn, chuốc cho lucun say mèm. Bây giờ đây chàng còn muốn nhảy múa ca hát nữa. Và Lilia trong khi ngồi trên thuyền vượt hồ nước đã nghe tiếng hát của lucun vẳng lại từ xa:
ở đây ta uống, ở đây ta chơi....
- Chàng làm sau vậy? - Lilia lo lắng tự hỏi. Nàng không thể  hiểu được lucun đã kiếm đâu ra rượu độc, bởi lẽ người lạ mặt đã biến mất không để lại dấu vết.
Một tuần lễ sau, khi trên đường từ nhà người yêu trở về, lucun lại gặp người lạ mặt. Trông dáng vẻ chàng buồn rầu, không được tự nhiên. Thì ra là chàng mới bị bà mẹ vợ tương lai quả trách vì tội đã nhảy múa, hát hò, gây ồn ào một buổi chiều nọ. Người lạ mặt săn đón, hỏi dò vì sao chàng lại buồn, và chàng đã không giấu diếm gã nỗi lòng mình. ồ, chẳng việc gì phải buồn, ai  mà chẳng biết được mụ phù thuỷ và bà mẹ vợ kia thực ra chỉ là một, chỉ cần nhắp một chút rượu thuốc này thôi là bao nhiêu nỗi buồn sẽ tiêu tan hết. lucun lại uống và càng uống nhiều, chàng càng cảm thấy trong người phấn chấn hơn. Chàng cứ tiếp tục uống nữa, uống mãi. Sáng ra, người nhà tìm thấy chàng đang nằm gục bên bờ giếng, chỗ đàn ngựa hay uống nước.
Cứ thế, mỗi lần lucun gặp chuyện bất hạnh gì đấy, người lạ mặt lại xuất hiện với cái chai cầm trên tay. Có bận Lilia tìm thấy người tình của mình nằm trên bờ hồ, toàn thân lấm lem và đang rên rỉ. Nàng gạn hỏi chàng rất lâu, cho tới khi lucun phải thú nhận rằng, chàng đã uống quá nhiều rượu của một người lạ mặt. Lilia hết lời van xin chàng hãy xua đuổi con quỷ rượu kia đi và tìm cách vượt qua nỗi bất hạnh của mình.
lucun hứa sẽ làm theo đúng lời nàng dặn. Còn người lạ mặt dường như đã nghe được câu chuyện giữa hai người nên không dám bén mảng đến nữa. Tuy vậy gã vẫn lén lút dúi chai rượu khi thì vào túi áo, khi thì đặt dưới gối lucun. Đối với lucun nếu không uống thì anh sẽ mất ngủ và trong đầu luôn luôn quay cuồng câu hỏi: lấy đâu ra tiền để mua sắm áo cưới và tổ chức yến tiệc?
Chỉ còn đúng ba ngày nữa là tới đám cưới; hôm ấy, sau khi đã chờ đợi vô ích lucun trên bờ hồ, Lilia bèn đích thân đi xem xét tại sao chàng lại không tới. Ngôi nhà và mảnh sân đã bị màn đêm bao phủ, từ phía cửa ra vào hé mở lọt ra một tia sáng xanh leo lét, Lilia tiến lại gần. Chuyện gì thế kia? Trên nắp thùng rượu, lucun và - lạy Chúa! - một người nữa đang đánh cờ. Chẳng lẽ lucun lại không nhận ra kẻ đang ngồi đối diện với chàng kia là một con quỷ lông xù tai dài, có cặp sừng và đang gõ gõ cái móng ngựa xuống nền nhà bằng đất sét đó sao? Từ trong đôi mắt ứa máu của quỷ phát ra một tia sáng xanh leo lét, lucun không nhận ra điều đó sap?
- át chủ bài! - Quỷ hét
Quỷ đã thắng và giơ bàn tay ra:
- Đưa chiếc nhẫn đây!
Còn lucun? Chàng đang tháo chiếc nhẫn, quà tặng của vợ, đưa cho quỷ.
Lilia toan hét lên, song vì sợ hãi và giận dữ, cổ họng nàng cứ tắc nghẹn lại.
- Tao cược một chai nữa - tiếng quỷ la - Mày cược gì?
- Tôi chẳng còn gì nữa cả - lucun phàn nàn - Tôi đã thua trắng tay, cả nhà cửa, của cải, thậm chí đến chiếc nhẫn cưới cũng mất.
- Mày còn cô vợ chưa cưới đó, đưa nàng ra cá cược nốt đi! Quỷ cười.
lucun thốt lên:
- Không được! Khác nào mày rút trái tim trong lồng ngực của tao.
- Hãy uống một hớp đã rồi thoả thuận sau - Quỷ đưa cho chàng cái chai và lucun đã tu thả sức.
- Cược Lilia nhé - Quỷ hỏi
- Không!
- Cược Lilia nhé?
- Hèm... - lucun thở dài.
- Uống đi!
Uống cạn ngụm rượu thứ ba, lucun thốt lên:
- Được! Chả lẽ trên thế gian này ngoài nàng ra không còn gái đẹp nữa sao?
Một tiếng rên thốt ra từ lồng ngực Lilia:
- lucun, anh làm gì thế?
Nàng chạy lại bên hồ, đôi chân rớm máu. Nhưng nhữn vết thương này làm sao có thể so sánh được với nỗi đau đang dày vò lương tâm nàng. Nàng không hề mảy may có ý nghĩ rằng trên đời này ngoài lucun nàng còn có nhiều chàng trai khác. Không, nếu lucun coi rượu của quỷ quý giá hơn cả nàng thì nàng chẳng nên sống làm gì. Thà nhảy xuống hồ tự vẫn còn hơn.
Sau khi bơi thuyền đến hồ, Lilia thốt lên:
- Vĩnh biệt tuổi thanh xuân của ta!
Nàng gieo mình xuống nước và ở lại đó vĩnh viễn, còn con thuyền thì bị gió đánh bạt sang bờ khác.
Đến lúc này, lucun mới hiểu rằng chàng đã đánh mất hạnh phúc của mình. Ngày nào chàng cũng đến ngồi bên hồ và chờ đợi một điều gì đó, hy vọng một điều gì đó, cùng với nỗi lòng chàng đầy phiền muộn và tiếc thương.
Nhưng một hôm, đúng lúc vào ngày lễ thánh, chàng nhìn thấy một bông hoa trắng trôi nổi, bập bềnh trên mặt nước, và không hiểu tại sao chàng cứ đinh ninh đó là Lilia, người vợ chưa cưới của chàng đã mất tích ba ngày trước khi cưới. Và chàng nghe có lời ca vang xa trên hồ nước:
Bông hoa trắng trên hồ
Đó là người bạn đời của ta
Nhưng liệu có lời đáp lại không?
Không, chàng lại nghe rành rọt những lời sau:
Thà ở lại vĩnh viễn đáy hồ
Còn hơn trong vòng tay ôm ấp của chàng
Đó chính là Hoa Súng Trắng - Hoa của hồ nước.

Sự Tích Hoa Thiên Lý


Hoa Thiên Lý

Hoa Thiên Lý

Ngày xưa, xưa xưa, có một chàng trai thổi sáo rất hay. Hay đến mức, một con rắn lục mê tiếng sáo của chàng, đã quyết tâm tu luyện cho thành người để giành chàng làm chồng, mặc dù chàng đã có vợ. Lần ấy, sau một chuyến mang cây sáo trúc đi thổi thi và đoạt được giải nhất trở về, vừa đến đầu làng, chàng trai đã thấy người vợ trẻ vừa xinh, vừa hiền của mình ra đón. Chàng vui lắm, đâu biết đấy chính là con rắn lục đã biến thành người và đã giả dông giống y hệt vợ chàng từ vẻ mặt, lời nói đến dáng đứng, dáng đi... Về đến nhà, chàng trai bỗng rụng rời thấy một người vợ thứ hai bước ra... Chàng trai không còn biết ai là vợ thật của mình nữa. Hai người đàn bà trẻ giống nhau còn hơn cả hai giọt nước. Chàng liền tìm đến một ông cụ nổi tiếng là tài giỏi trong việc tìm ra chuyện phải trái ở trên đời, để nhờ giúp đỡ. Nghe chàng nói rõ ngọn ngành, ông cụ nhận lời ngay và cho gọi hai người đàn bà trẻ đến.


-Cụ già lấy vải đen bịt mắt cả hai lại rồi đưa cho hai người ba cái áo có mùi mồ hôi của ba người đàn ông khác nhau và dặn:

-Cứ ngửi đi và cái nào là của chồng thì gật đầu, không phải thì lắc đầu! Cô vợ thật được ngửi trước. Cô vợ giả ngửi sau. Mắt cô vợ giả vốn là mắt rắn nên có thể nhìn xuyên qua vải đen. Vì vậy cô ta liếc nhìn người vợ thật, thấy cô này lắc đầu thì cũng lắc đầu, thấy gật đầu thì cũng gật theo. Thế là cả hai đều đã ngửi đúng được mùi áo của người chồng có tài thổi sáo. ông cụ liền cho mang đến ba bát canh, một bát có vị gừng, một bát có vị hành và một bát có vị lá hẹ. ông cụ dặn:

-Thứ canh nào chồng thích ăn thì gật đầu, thứ nào chồng không thích thì lắc đầu. Sự việc lại diễn ra như lần thử trước. Thấy người vợ thật gật đầu khi nếm bát canh nấu với gừng, cô vợ giả cũng gật đầu theo. ông cụ cho cả hai cùng về, để cụ suy nghĩ thêm. Hôm sau, cụ lại cho mời hai người đến. Cụ để hai người đứng ở hai nơi, không trông thấy nhau nhưng cùng nhìn ra một con đường ở phía trước mặt, cách chỗ đứng khá xa.

-Ta sẽ cho ba chàng trai đi ngang qua đường. Nhận ra ai là chồng mình thì cứ vẫy gọi. Ai gọi đúng chàng thổi sáo tài giỏi thì người đó là vợ thật, ai gọi sai là vợ giả và sẽ phải chịu tội với dân làng. Cô vợ giả lúc đầu lo lắm. Nhưng sau cô ta đã nghĩ ra được một lối thoát. Cô ta định bụng khi nào nghe tiếng cô vợ thật gọi thì cũng sẽ gọi ngay theo. Một người trai trẻ đi qua. Rồi hai người. Cô vợ giả không nghe tiếng cô vợ thật gọi thì cũng im lặng theo. Cô ta mừng lắm. Như thế thì người còn lại đúng là chàng trai thổi sáo tài giỏi. Vì vậy khi chàng trai thứ ba vừa xuất hiện thì cô vợ giả đã vẫy tay và gọi to:

-Anh ơi! Em ở đằng này này! Trong lúc người vợ thật vẫn đứng im. Vì đó vẫn chưa phải là chồng cô . Cụ già liền dẫn chàng trai thứ ba đến trước cô vợ giả và nói:

-Như vậy, cô đã tự nhận cô là kẻ manh tâm đi cướp đoạt chồng của người khác. Chàng trai này đâu phải là người mà cô đã nhận là chồng cô. Rồi cụ lại cho gọi cô vợ thật đến và hỏi:

-Trong ba chàng trai, không có ai là chồng cô sao?

-Thưa cụ, nếu là chồng cháu thì dẫu ở xa trăm dặm, ngàn dặm, cháu cũng nhìn ra! Cụ già liền cho ba chàng trai khác tiếp tục đi qua đường. Đến người thứ năm thì người vợ thật kêu to lên mừng rỡ:

-Anh ơi! anh ơi! Đúng đó là chàng trai thổi sáo tài giỏi. Sự việc đã rõ ràng. Cụ già liền theo lệ của làng, nọc cô vợ giả ra đánh một trăm roi. Nhưng chỉ đánh được chục roi thì đau quá, cô vợ giả đã hiện nguyên hình con rắn lục và bò nhanh vào bụi cây trốn mất . Hai vợ chồng chàng thổi sáo vui mừng lạy tạ ông cụ. ông cụ tươi cười bảo:

-Tìm ra được kẻ gian cho đời là lão vui rồi. Bây giờ lão chỉ muốn được nghe điệu sáo hay nhất của ônh thôi! Chàng trai liền rút cây sáo trúc luôn giắt ở bên mình ra thổi. Tiếng sáo của chàng nghe réo rắt như tiếng chim, của trời, của sông, của nước nhưng nổi lên rõ hơn cả là tiếng của con người vui mừng được sống trong lẽ phải và tình thương. ai nghe cũng ngơ ngẩn say mê... Hai vợ chồng sau đó liền kéo nhau trở về nhà. Họ sống bên nhau đầm ấm vui vẻ. Hai vợ chồng cùng làm ruộng. Lúc rảnh chồng lại đem sáo ra thổi cho vợ và hàng xóm cùng nghe. Ngày hội, ngày Tết, tiếng sáo của chàng càng làm cho mọi người thêm yêu đời và quý mến nhau. Một buổi chiều, người vợ đang gội đầu, người chồng đang thổi sáo thì bỗng có con chim gì thả rơi ở bên chân người vợ một chùm hoa màu xanh phớt vàng có mùi thơm thoang thoảng. Đêm đến mùi hoa càng thơm hơn. Người vợ liền bảo chồng đặt bông hoa bên cạnh cửa sổ để có gió, hương hoa càng bay thơm khắp nhà.

Sáng hôm sau, thức dậy, cả hai vợ chồng đều lạ lùng thấy bông hoa đã kết liền vào một loại dây leo mọc ở cạnh cửa sổ. Và sau đó, không phải chỉ có một chùm hoa, mà rất nhiều chùm hoa khác lại nở tiếp theo. Hoa màu xanh phớt vàng hình giống như ông sao năm cánh, hương thơm dịu ngọt. Loại hoa ấy ngày nay ta gọi là hoa thiên lý. Vì sao lại có cái tên ấy? Các cụ xưa giải nghĩa: Vì tên cô vợ thật là Lý. Còn thiên lý là vì ông cụ có tài tìm ra mọi việc phải trái, đã dựa vào câu trả lời của cô vợ thật mà đặt tên mới cho cô và trêu cô:

-Tên cô từ nay không phải là Lý mà là Thiên Lý. Thiên Lý nghĩa là nghìn dặm, nghìn dặm mà vẫn nhận ra được chồng mình...! Các cụ còn nói thêm: Cô vợ giả, tuy đã trở lại kiếp rắn lục nhưng vẫn giữ trong lòng mình mối hận đối với cô vợ thật... Vì vậy ai yêu hoa Thiên Lý, rắn lục không thích đâu. Rắn lục thường bò nấp vào các dây hoa Thiên Lý để mổ cắn những ai thích ngắm hoa Thiên Lý, yêu mùi hương Thiên Lý. Nhưng cho đến nay càng ngày mọi người càng quý càng yêu loại hoa có mùi hương rất dung dị và mộc mạc này.

=== một sự tích khác về hoa Thiên Lý ===

Xưa kia, nơi một miền quê hẻo lánh, có một gia đình họ Lý trú ngụ. Vợ chồng nhà quê này ăn ở với nhau sinh được hai người con: một gái và một trai. Nhưng không bao lâu, người chồng lại từ trần, để lại cho người vợ goá nuôi nấng hai con. Dần dần tuổi già sức yếu nên gia đình bà ta phải lâm vào cảnh túng cùng.
Cô con gái, mà người dân trong vùng quen gọi là cô Lý, năm ấy vừa lên mười bảy tuổi. Cô ta chuyên nghề trồng hoa màu để bán lấy tiền nuôi mẹ và em. Tuy sống trong cảnh thiếu thốn nghèo nàn, nhưng cô ta có một sắc đẹp mặn mà và tính tình rất nhân hậu, nên được mọi người mến thương.
Vào một buổi sáng nọ, nàng Lý đang tưới hoa nơi vườn, bỗng nghe có tiếng "chiêm chíp" trong một lùm cây. Nàng ta chạy vội đến thì thấy một con chim Vàng Anh còn non đang đứng run rẩy trên cành. Có lẽ vì đêm qua mưa to gió lớn nên nó té rơi lìa ổ. Nàng Lý liền bắt lấy, rồi chạy vào nhà nhóm lửa lên sưởi ấm cho con chim.
Thường ngày nàng đi bắt châu chấu về đút cho chim ăn và chăm sóc cho nó rất chu đáo, y như một người mẹ chăm sóc cho đứa con thơ. Vì thế mà con chim rất mến yêu nàng ta va không bao giờ nó xa nàng một bước.
Thấm thoát... con Vàng Anh đã khôn lớn, nó cất tiếng hót thánh thót, làm cho gia đình nàng Lý cũng vui lây. Mỗi sáng, Vàng Anh thức dậy thật sớm và theo nàng ra vườn hoa bắt sâu bọ. Tối đến, nó nhảy nhót hót vang như để tạo niềm vui cho gia đình nàng Lý. Đến lúc nàng vào buồng ngủ, nó cũng theo và đậu trên đỉnh màn.
Mãi cho đến mùa thu năm ấy... Nơi Kinh Đô, nhà vua cùng đoàn tuỳ tùng chuẩn bị mở cuộc săn bắn bên xứ Đông.
Một hôm, trong lúc săn bắn nhà Vua vì mải mê đuổi theo một con thỏ, đến lúc bắn được con vật thì ngài cũng mệt nhoài, Ngài bèn gò cương ngựa tạt vào một xóm dân dã gần đấy để nghỉ mệt. Nhưng lạ thay! Vừa đến trước sân một ngôi nhà thấp lè tè, nhà Vua chợt nghe tiếng hát lanh lảnh ở đâu đây vọng ra làm cho ngài xao xuyến lạ thường.
Nhà Vua bèn xuống ngựa nom theo một lối bước vào vườn cam thì thấy có một cô gái đang ngồi hát dưới gốc cam, ngước nhìn những quả cam vàng ối đang đu mình nặng trĩu trên cành. Ngài thấy thèm khác lạ. Tiếng hát lại im bặt vì cô gái nghe thấy tiếng động ở trong vườn. Nàng giật mình quay lại thì thấy một người đàn ông ăn mặc rất sang trọng có cốt cách quan quyền đang tiến bước về phía nàng. Người đàn ông vừa cười mỉm vừa cất tiếng khen rằng:
- Chà Cô bé hát hay quá nhỉ!
Nang Lý không biết đấy là nhà Vua, nên sau phút ngập ngừng e thẹn, nàng cũng vui vẻ nói với ông khách lạ rằng:
- Ông khen quá lời... chứ tôi chỉ hát hỏng lăng nhăng cho vui miệng vậy thôi!
- Cô cho ta mua ít cam...
- Chẳng hay...ông từ đâu đến?
- Ta từ..à. ta đang đi săn rồi lạc ngựa vào đây.
- Trông ông có vẻ khát lắm thì phải?
- Dĩ nhiên rồi ! vì trời thu mà sao lại nắng to như nắng hạ! Nàng Lý cười nhoẻn duyên dáng, rồi bẻ thoăt lấy hai trái cam to nhất, trao cho người đàn ông. Người khách vui vẻ đón lấy và bóc ra ăn. Bỗng thình lình co tiếng vó ngựa phi vang trời, và sau đấy là một đoàn quan quân kéo đến rầm rộ. Khi đoàn người vừa nhìn thấy người đàn ông thì họ có vẻ khép nép sợ hãi. Có một người trong bọn, ăn mặc theo lối quan quyền tiến vào vườn cam và quỳ dâng nước cho người đàn ông uống. Bấy giờ nàng Lý mới đoán biết rằng, chắc người khách kia cũng là bậc công hầu khanh tương chi đây. Bỗng nhiên nàng đâm ra sợ hãi, chạy biến lẩn tránh vào nhà.
Kể từ hôm ấy, nhà Vua không bao giờ quên được bóng dáng người con gái quê mùa có dáng điệu nhí nhảnh, lại ca hát hay hay... Ngài bèn lệnh cho quan quân đi rước cô gái để tiến vào cung tần.
Khi quan quân đến xứ Đông báo tin cho gia đình họ Lý biét ý định của nhà Vua, thì cả ba mẹ con nàng Lý đều hoảng hốt, ôm chầm lấy nhau mà khóc oà lên.

Hoa Thiên Lý

Theo thói thường, khi một gia đình nào vinh hạnh lắm mới có con được tiến vào cung. Nhưng với gia đình họ Lý thì khác, họ cho đó là một cực hình... Vì khi vào đấy rồi, thì kẻ bất hạnh ấy không bao giò còn được trông thấy mặt mẹ cha và suốt đời sẽ vĩnh viễn thu mình nơi cung cấm.
Nhưng lệnh vua đã ban truyền, làm sao gia đình họ Lý dám cưỡng lại. Nàng Lý đành ôm lòng sụt sùi từ biệt mẹ và em, rồi miễn cưỡng theo đám quan quân lên đường về kinh đô.
Lòng mẹ thương con bao la như biển như trời, khiến bà ta vật vã chạy theo đám quan quân, kêu gào thảm thiết... Tuổi già sức mỏi, bà ngã quỵ bên đường.
Em trai nàng Lý, lòng thương chị vô cùng cũng chạy theo đám quan quân mà gào khóc... Trước cảnh chia ly não ruột ấy, nàng Lý khóc ròng, ngoảnh lại gọi em mà bảo trong tiếng chan hoà:
- Em ơi! Sao em không về với mẹ già, lại chạy theo chị làm gì?
Em trai nàng vừa chạy bay đến vừa đưa tay gạt nước mắt, rồi thò tay lấy con chim Hoàng Anh trong bọc áo ra đưa cho chị, nức nở bảo rằng:
- Từ đây, gia đình ta đã xa lìa chị! Chỉ co con chim này là có thể theo chị được thôi. Vậy chị hãy mang nó theo đi đẻ sớm khuya co bầu bạn. Thôi em xin giã biệt chị, chị oi!
Thế là hai chị em chỉ biết nhìn nhau chan hoà giọt lệ. Đứa con trai vẫn đứng chết điếng bên vệ đường, mãi cho đến lúc đoàn người khuất dạng mới chịu lần mò trở về.
Trải qua mấy ngày đường, đoàn người đã về đến Kinh Đô. Nhà vua bèn truyền đưa nàng Lý vào cung để hầu hạ Công Chúa. Công Chúa kèm nàng ba tuổi, nhưng vóc dáng lại đẫy đà hơn. Tính Công Chúa thường hay gắt gỏng, và rất đanh ác. Vì vậy nàng Lý phải luôn gánh chịu mọi sự hành hạ và đầy đoạ của Công Chúa.
Có một buổi sáng, tự dưng Công Chúa thấy có một con chim Vàng Anh đậu trên cành liễu, đang cất tiếng hót líu lo nghe rất vui tai, Công Chúa lấy làm thích thú, bèn gọi nàng Lý bắt con chim dâng nàng. Nhưng nàng Lý thưa rằng:
- Con Vàng Anh ấy là của tôi. Nếu Công Chúa muốn bắt, thì tôi sẽ gọi nó xuống đây.
- Dứt lời, cô gái giơ cao tay ngoắt, miệng mấy tiếng thì con Vàng Anh liền bay sà ngay xuống và đậu trên vai nàng. Công Chúa lấy làm lạ mới hỏi rằng:
- Ngươi tìm đâu được con chim khôn ngoan vậy?
- Nàng Lý bèn thuật lại mọi nguồn cơn... Nghe xong, Công Chúa bảo rằng:
- Thế thì nhà ngươi phải dâng con chim Vàng Anh cho ta. Và ngươi hãy đi tìm ngay một chiếc lồng đẹp đẽ để cho ta nhốt nó vào, kẻo nó bay đi mất.
- Nàng Lý cúi đầu vâng dạ. Rồi chốc sau, tay xách một chiếc lồng son rất đẹp đến dâng cho Công Chúa. Công Chúa liền bỏ con Vàng Anh vào và treo trước cửa phòng. Nhưng từ đấy, con Vàng Anh không bao giờ hót nữa. Công Chúa tức giận mới gọi nàng Lý mà bảo rằng:
- Nhà ngươi phải bảo con chim nó hót cho ta nghe. Không ta sẽ đánh đòn nhà ngươi.
- Bẩm, vì Công Chúa không cho Vàng Anh ăn uống thì làm sao nó hót đươc!
- Công chúa liền thưởng cho nàng Lý mấy roi đích đáng bởi cái tội không nhắc để cho chim ăn uống. Rồi sai lấy gạo và nước đựng trong hai cái chén ngọc, tự tay Công Chúa để vào lông cho chim ăn. Nhưng lạ thay! Con Vàng Anh vẫn thu mình và đôi mắt lim dim đứng một xó, không hề nhích bước, Nàng Lý thấy thế, bước vội lại mà bảo khẽ rằng: " Vàng Anh ơi ! Hãy ráng ăn đi! Không thì rã ruột đấy!". Bấy giờ Vàng Anh mới chịu mổ lấy lệ mươi hạt gạo để nàng ta vui lòng. Song nó nhất định không chịu cất tiếng hót.
- Nàng Lý lất lét nhìn Công Chúa mà lòng hồi hộp vô cùng. Đoạn nàng ra từ tốn thưa rằng:
- Bẩm Công Chúa! Có lẽ Vàng Anh vì không quen ăn ở trong lồng nên nó không buồn hót
- Công Chúa liền đưa tay tháo cửa lồng ra. Con Vàng Anh bay vụt ra đậu trên cành liễu rồi cất tiếng hót thánh thót...
- Bỗng Công Chúa sắc mặt đỏ gay, đôi mắt nàng trừng trừng nhìn nàng Lý, tiếp theo là thưởng cho nàng mấy roi liền , bởi cái tội có con chim xấc láo, dám vô lễ trước mặt con Vua. Rồi Công Chúa hất hàm quát bảo nàng Lý:
- Ngươi hãy gọi con chim xuống đây cho ta!
Nàng Lý không dám cưỡng lời liền huýt mấy tiếng thì con chim bay sà xuống ngay. Nhưng ý chừng nó đoán biết là Công Chúa sẽ hành hạ mình nên Công Chúa vưa đưa tay bắt lấy thì nó kêu : " choé " lên và mổ luôn mấy cái vào tay Công Chúa. Công Chúa thu ngay tay về và tru tréo lên inh ỏi. Hoàng Hậu nghe thấy vội vã đến nơi thì thấy Công Chúa đang ôm lấy bàn tay rướm máu mà gào khóc vang dội. Bà vội ôm chầm lấy con, hỏi rằng:
- Con làm sao thế?
- Con chim Vàng Anh nó mổ co...on!
- Hoàng Hậu trợn đôi mắt, quát sai lính hầu căn nọc nàng Lý đánh cho mười roi, bởi cái tội dám để con chim mổ vào bàn tay ngọc ngà của Công Chúa. Đồng thời bà cũng truyền bảo lính hầu lấy cung tên ra bắn con chim Vàng Anh lúc ấy đang đậu trên cành cho chết đi. Từ trên cành, con Vàng Anh vừa nhác thấy tên lính hầu cầm cung tên thì nó vụt bay đi mất. Mãi cho đến trời tối mịt, nó mới lần mò bay về
Sáng sớm nào nàng Lý cũng ra đứng trên chiếc caauf bắc ngang dòng suối sau hậu cung, ngoảnh mặt về hướng mặt trời mọc mà khóc than sướt mướt... Đoạn nàng nhặt lấy một chiếc lá khô và nhỏ lệ vào đấy, rồi thả xuống dòng suối xuôi về phương Đông, có ý nhắn gửi tấc lòng mình xuôi về quê hương yêu dấu.
Và mỗi ngày, con Vàng Anh chỉ được có mỗi dịp duy nhất này để lân la bên nàng Lý. Vì tự lúc nó chết hụt hôm nào, khiến nó sợ hãi mọi người.
Rồi có một sáng sớm nọ, Công Chúa thức giấc sớm hơn mọi khi và không thấy bóng dáng nàng Lý đâu, mới rón rén lần bước tìm xem. Chợt bắt gặp cô gái đang đứng trên chiếc cầu sau hậu cung, Công Chúa vốn sẵn có tính tinh nghịch, liền rón rén chạy ra đưa tay xô nàng Lý ngã chúi xuống cầu. Bất ngờ nàng ta vì mất thăng bằng, nên đưa tay quơ mạnh về phía sau để gượng lại, không may xéo vào vạt ao của Công Chúa làm Công Chúa cũng bổ nhào xuống nước. Nhưng cũng may là con suối không sâu lắm, cho nên Công Chúa chỉ phải một phen mất vía và uống vài ngụm nước. Lính hầu trông thấy liền chạy vây xuống bồng xốc Công Chúa đem vào cung và phi báo cho Hoàng Hậu biết. Bà ta kinh ngạc chạy vào thì thấy Công Chúa đang khóc bù lu bù loa va mình mẩy ướt đẫm. Bấy giờ Công Chúa mới hoàn hồn mếu máo mà phao mách vói Hoàng Hậu rằng:
- Bẩm Mẫu Hậu, con kia nó định dìm con chết đuối...
Vừa nghe thế, mặt nàng Lý bỗng biến sắc và toàn thân run rẩy vừa kinh sợ. Nhưng Hoàng Hậu vốn là con người thừa xét đoán nên nghĩ rằng nàng ta không bao giờ dám làm một việc tày trời như thế. Bà ta liền truyền lệnh đem giam nàng Lý vào lãnh cung và suốt đời bị cấm cố ở đấy.
Thế là nàng Lý từ đây phải sống tàn tạ nơi cung tối. Hàng ngày chỉ được bà quản cung bố thí cho một ít gạo, củi và nước. Nàng đang ngồi gục đầu khóc sướt mướt, bỗng nghe tiếng hót của con Vàng Anh, nàng liền ngước nhìn lên và huýt mấy tiếng. Tức thì con Vàng Anh bay sà xuống với dáng điệu hớn hở. Kể từ hôm ấy nàng Lý cũng vơi được sự buồn rầu vì đã có con Vàng Anh bầu bạn sớm khuya.
Nhưng tiếng hót của con Vàng Anh đã thấu tai bà quản cung. Bà ta mở cửa cung tối, định tìm xem tiếng hót có phải xuất phát tại nơi này. Vừa bước chân vào, bà ta phải trố mắt ngạc nhiên nhìn thấy tận mắt con Vàng Anh đang cùng nàng Lý ăn chung bát cơm. Bà ta mới cất tiếng hỏi rằng:
- Này cô bé kia ơi! Con chim của cô nuôi đấy hử? Cô nuôi tự bao giờ mà chóng được khôn ngoan như thế?
- Thưa bà, tôi nuôi nó hồi con nhỏ từ lúc mới biết chuyền, và nó đã theo tôi từ quê nhà bên xứ Đông đến đây.
- Ồ, thích nhỉ!
- Bà xoa xít nhìn mãi con chim , rồi đánh tiếng rằng:
- Hay là... cô bé cho ta con chim này đi?
- Cô gái ở vào trong thế khong từ nan. Thôi thì đành cho bà ta để mong chờ nơi sự nương tay của bà, thì tấm thân của cô ta cũng đỡ phần cực nhọc.
- Vâng! Nếu bà thích Vàng Anh thì xin bà nuôi lấy, vì mùa lạnh sắp đến nơi rồi. E nó lạnh lẽo tội nghiệp.
- Bà ta vui mừng ôm lấy con Vàng Anh và đem nhốt vào một chiếc lồng son treo trước cửa phòng. Nhưng lạ thay! Cũng như lần trước, con Vàng Anh biếng ăn biếng uống và không bao giờ chịu cất tiếng hót. Bà quản cung tìm đủ mọi cách đẻ dỗ dành nó, nhưng tuyệt nhiên nó vẫn lạnh lùng, đứng ủ rũ trong một góc lồng, lại càng ốm o, lông xù như sắp chết. Bà ta đành ôm con chim vào trả lại cho nàng Lý, và nói rằng:
- Chịu thôi! Tôi không có cách nào dỗ dành nó ăn được! Vì con chim của cô nó có nghĩa hơn người. Nếu tôi cố giữ thì ắt nó chết mất!
- Bà quản cung vừa lỏng bàn tay thì con Vàng Anh vụt bay đến đậu trên vai nàng Lý hót líu lo. Chủ tớ hết sức mừng rỡ vì đã xa nhau bao ngày...
Thế rồi, một buổi sáng nọ, khi choàng thức giấc, nàng Lý không thấy Vàng Anh đâu, mới đưa miệng huýt mấy tiếng gọi nó. Nhưng con Vàng Anh biệt vô âm tín. Nàng ta hết sức lo lắng, e sợ có kẻ nào bắn chết nó đi chăng?

Nhưng cô gái nào có ngờ hiện thời con Vàng Anh đang trên đường bay về xứ Đông. Khi về đến ngôi nhà cũ, nó đậu trên cành cam trước nhà và hót lên inh ỏi... Bà mẹ cô gái và đứa con trai đang ngồi ăn cơm, bất thần bà lão buông rơi đũa, rồi hớn hở bảo con rằng:
- Con ơi tiếng hót ấy dường như quen thuộc lắm! Con mau chạy ra xem có phải con Vàng Anh của chị con nuôi trước kia không?
- Đứa con trai trưởng là chị nó đã về tới, bèn mở toan cửa hớn hở chạy ra ngõ, nhưng không thấy bóng dáng ai cả. Con Vàng Anh thấy mở cửa vụt bay vào đậu trên mâm cơm bà lão và mổ lấy mấy hạt. Thấy chim , bà lão xụt xùi rơi lệ. Bà lão nghẹn ngào ôm lấy nó, hỏi rằng:
- Chim ơi! Cô con hiện giờ ở đâu? Sống chết đường nào? Con mau nói cho ta rõ.
Nhưng khốn nỗi con chim Vàng Anh làm sao noi s được tiếng người! Nó chỉ biết chớp mắt nhìn bà lão rồi hót lên từng hồi nhặt khoan... Bà lão cũng không biết hỏi sao, thôi đành xé lấy một mánh áo cũ của con gái buộc vào chân con Vàng Anh, rồi ra vườn nhổ lấy một dây hoa nhỏ buộc vào chân kia của con chim. Bà lão nghĩ rằng, làm như thế may ra con gái bà còn sống sẽ bắt được dấu tích của gia đình.
Sáng sớm hôm sau, con Vàng Anh nhảy nhót mấy tiếng như có ý từ biệt mọi người, rồi cất cánh bay bổng lên trời. Và chiều tối hôm ấy, nó đã về tới lãnh cung, và đứng trên mái cung hót lên mấy tiếng.
Đã hai hôm rồi, nàng Lý vì thương nhớ con Vàng Anh nên khóc sưng cả mắt. Nay lại vừa nghe tiếng hót của nó, nàng vui mừng vô hạn, huýt mấy tiếng thì nó bay đạu trên vai nàng. Bỗng nàng hết sức ngạc nhên vì thây nơi hai chân con Vàng Anh có mang một vật chi lòng thòng. Nàng bèn tháo vội ra và đê mắt nhìn vào thi... Chao ôi! Đây là mảnh ao của chính nàng... đây la dây hoa mà chính tay nàng trồng lúc còn ở quê nhà. Không còn nghi ngờ gì nữa, con Vàng Anh đã vừa về qua xứ Đông và những vật này là dấu tích của gia đình nàng. Thế là mẹ và em trai nàng vẫn còn mạnh khoẻ.
Nàng ta trong lòng buồn vui lẫn lộn, ôm chập lấy hai vật dấu tích kia nhắm nghiền mắt lại và hình như thoáng thấy hình ảnh của mẹ và em nàng lởn vởn đâu đây. Nàng Lý bèn đem mảnh áo may gấp lại và đeo vào cổ, còn dây hoakia nàng nạy một viên gacgj ở trước cửa cung cấm lên rồi trồng nó xuống đất, vá mỗi ngày nàng thường tưới bón. Gặp mùa mưa phùn đất ẩm, không bao lâu sau, dây hoa nẩy rễ, sinh sôi tươi tốt. Nàng Lý bèn bắc một cái thân que cho dây hoa leo lên tường, thấm thoát... mùa hè đã đến. Những dây leo ấy nở hoa trổ sắc vàng vàng và hương bay ngan ngát. Trải qua ba mùa hoa nở như thế, bấy giờ dàn hoa đã phủ kín trên mái cung cấm và mùi hương bay toả khắp tam cung lục viện. Lúc ấy lại đúng vào lúc trăng tròn, nhà Vua và Hoàng Hậu thường đêm ngụ ra vườn Thượng Uyển để ngắm trăng. Nhưng bất ngờ nhà Vua khịt mũi mấy cái vì ngửi thấy mùi hoa lạ hơn thường ngày. Nhà Vua quay qua hỏi Hoàng Hậu: Hậu có ngửi thấy mùi hương là lạ không? Cũng vừa lúc Hoàng Hậu vừa gửi thấy, nên khe khẽ gật đầu. Nhà Vua đưa măt nhìn quanh tứ phía rồi lẩm bẩm: Lạ chưa, mùi hương rất kì lạ, xưa nay ta chưa từng ngửi thấy bao giờ; hay là... Thần hoa lại giáng lâm. Nhà Vua bèn sai truyền cung nữ đốt đèn đi lục tìm khắp nơi trong tam cung lục viện, khi đi đến một bức tường chợt nhìn thấy trên mái cung cấm có giống hoa chie phủ dày kín mít, và mùi hương lạ càng lúc càng nồng nặc hơn. Các cung nữ bèn xách đèn lồng đến gọi bà quản cung mở cửa cung cấm cho họ vào, khi bước vào cung tối, họ nhìn thấy một cô gái đang nằm ngủ dưới gốc dây hoa, bên cạnh là con Vàng Anh. Các cung nữ bèn lại gọi cô gái dậy và hỏi có phải mùi hương lạ là do giống hoa này tiết ra không? Thì cô ta chép miệng : "phải đó" Các cung nữ vội vàng chạy về báo tin cho nhà Vua biết. Nhà Vua cũng không hiểu tại sao nơi cung cấm lại có ai trồng giống hoa ấy tự bao giờ? ngay hôm sau, nha Vua bèn ngự đến cung cấm để xem giống hoa lạ ấy. Ngài thấy dây hoa sum sê và lá nó nhỏ như lá mơ, sắc hoa vàng hoecos mùi hương dìu dịu. Lấy làm lạ, ngài mới phán hỏi cô gái rằng: Cô bé kia, cô lấy giống hoa này ở đâu và tự bao giờ? Tâu Đức Vua, hoa này là một giống hoa mà nơi quê thiếp nó được mọc rất nhiều. Quê nhà ngươi ở đâu? và ai mang giống hoa ấy vào đây được?
- Tâu Đức Vua, con Vàng Anh này mang dây hoa ấy đến cho thiếp. Rồi cô gái bày tỏ mọi nguồn cơn cho nhà Vua nghe...Lúc ấy ngài mới sực nhớ lại bóng dáng một cô gái quê mùa nhí nhảnh nơi vườn cam dạo nọ, khiến ngài động lòng thương xót vô cùng. Sau vài phút chạnh lòng, nhà Vua phán hỏi cô gái rằng: Khi xưa, nơi ngôi nhà ấy ngươi ở với ai?
- Tâu Đức Vua, thiếp còn một mẹ già và đứa em trai. Bây giờ ngươi có muốn xin xỏ điều chi hãy khá tỏ bày, ta sẵn lòng ban cho. Vì ta vừa chợt nhớ lại thì... dẫu sao ta cũng còn nợ ngươi hai quả cam...
- Tâu Đức Vua, thiếp muốn được trở về quê quán để phụng dưỡng mẹ già. Bỗng nhà Vua tặc lưỡi, hạ giọng:
- Thế là ta lầm tưởng... ngươi được tuyển chọn vào cung tự bấy lâu nay là đã toại nguyện lắm rồi. Không ngờ... à, mà thôi, ta sẽ chiều ý ngươi...Sáng sớm ngày mai, ngươi có thể lên đường trở về quê quán. Quả nhiên hôm sau, nhà Vua truyền lệnh thả nàng Lý ra. Nàng cùng con Vàng Anh vừa đi vừa chạy để được chóng về xứ Đông... Thế rồi vào một buổi chiều nơi xứ Đông, trong lúc bà mẹ nàng Lý đang khom lưng mỏi mắt nhìn về phía chân trời, bỗng bên tai nghe tiếng : " Mẹ ơi". Bà lão giật mình quay phắt lại nhìn ra phía ngõ, thì rõ ràng là... chính cô con gái bà. Toàn thân bà lão run rẩy, bà lắp bắp nghẹn ngào chỉ thốt đứt quãng được mấy tiếng: "trời, con...ơi". Lúc ấy đứa em trai nàng Lý cũng vừa chạy ra, và ba mẹ con quán quýt ôm lây nhau mà chan hoà giọt lệ...
Và kể từ thủa ấy, Vua truyền sai quan quân đi đến xứ Đông, nhặt lấy giống hoa ấy đem về Kinh Đô vun trồng trong vườn Thượng Uyển. Ngài lai đặt tên cho giống hoa ấy là Hoa Lý, để ghi nhớ nàng cung tần họ Lý có lòng hiếu thảo vẹn toàn.
Về sau nơi Kinh Đô, thần dân thấy có vì "Thiên Tử" ưa chuộng giống hoa ấy, bèn gọi tặng là hoa " Thiên Lý"